Ca dao về hôn nhân, tình nghĩa vợ chồng (Phần 2)

Có con phải khó vì con,
Lấy chồng gánh vác giang sơn nhà chồng.

Có gió giông hung mới biết tùng bá cứng;
Nhờ ngọn lửa hồng mới rõ thức vàng cao.
Thuyền quyên sánh với anh hào,
Có đâu thả lý gieo đào như ai?

Có phúc lấy được vợ già,
Vừa sạch cửa nhà lại ngọt cơm canh.
Vô phúc lấy phải trẻ ranh,
Nó ăn nó bỏ tung tành nó đi.

Cơm này nửa sống nửa khê,
Vợ đơm chồng nếm chẳng chê cơm này.

Cơm trắng ăn với chả chim,
Chồng đẹp vợ đẹp những nhìn mà no.
Cơm hẩm ăn với cá kho,
Chồng xấu vợ xấu những lo mà gầy.

Con cá nục gai bằng hai con cá nục vọng,
Vợ chồng nghĩa trọng, nhân ngãi tình thâm.
Xa nhau muôn dặm cũng tầm,
Gặp nhau hớn hở tay cầm lời trao.
Ơn cha nghĩa mẹ cao dày,
Tình chồng nghĩa vợ thảo ngay trọn đời

Còn duyên buôn cậy bán hồng,
Hết duyên buôn mít cho chồng nhặt xơ.
Còn duyên đóng cửa kén chồng,
Hết duyên ngồi gốc cây hồng nhặt hoa.

Còn duyên nón cụ quai tơ,
Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong.
Còn duyên đóng cửa kén chồng,
Hết duyên bán quán ngồi trông bộ hành.

Con ngựa tía ăn quanh Đèo Cả
Bóng trăng rằm sắp ngả về Đông
Chẳng thà giục ngựa về không
Chẳng thèm cướp vợ tranh chồng người ta.

Con ơi gia cảnh mình nghèo,
Ham chi vợ đẹp vợ giàu nó khinh.

Con ta gả bán cho người,
Cờ ai nấy phất chứ chơi đâu mà.

Cưới em có cái cánh gà,
Có dăm sợi bún với vài hạt xôi.
Cưới em còn nữa, anh ơi,
Có một dĩa đậu, hai môi rau cần.
Có xa dịch lại cho gần,
Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi…
Hay là nặng lắm, anh ôi?
Để em bớt lại một môi rau cần…

Dạ ai hoài cho dù xa ngái,
Em xin chàng chớ ngại đừng nghi,
Để em lên Đợi xuống Tuy,
Đắt làm thuê, ế làm mướn đỡ khi đói lòng.

Đang khi chồng giận mình đi,
Hết khi nóng giận đến khi vui vầy.
Ngãi nhơn như bát nước đầy,
Bưng đi mà đổ hốt rày đặng đâu.

Đất Hòn Ngang chưa mưa đã rã
Gái Hòn Ngang chưa gả đã theo
Thò tay ngắt ngọn dưa leo
Để anh lo cưới, đừng theo nẫu cười.

Đêm đêm đốt ngọn đèn dầu,
Cầu cho cha mẹ sống lâu trên đời.
Đêm đêm dưới ngọn đèn trời,
Mong cho chồng vợ cả đời bên nhau.

Đêm qua để cửa chờ chồng,
Đêm nay để cửa chờ ông láng giềng.

Đèn nào cao bằng đèn Ba Vát,
Gái nào bạc bằng gái đất Giồng.
Thấy ai làm lễ tơ hồng,
Đi theo tiếng gọi quên chồng bỏ con.

Đốn cây, ai nỡ dứt chồi.
Tình chồng nghĩa vợ, giận rồi lại thương.

Dù ai đi sớm về trưa,
Anh ngồi nghỉ mát mà đưa võng đào.

Đường trường cách trở nước non,
Mẹ già đầu bạc thiếp còn xuân xanh.
Giang sơn thiếp gánh một mình,
Có hay chàng tỏ tâm tình thiếp chăng?

Em không phải người tham đào phụ liễu,
Em không phải người tham nhiễu phụ lương.
Em không thương anh lắm ruộng nhiều vườn,
Thương vì ý ở biết kính nhường mẹ cha.

Em là con gái Giồng Trôm,
Nào ai tính thiệt so hơn làm gì.
Yêu em anh phải nhớ ghi,
Đánh Tây giữ đất mới bì trượng phu.

Em về hỏi mẹ cùng thầy,
Có cho anh cưới tháng này thì cho.

Em về thưa mẹ cùng thầy,
Có cho anh cưới tháng này anh ra.
Anh về thưa mẹ cùng cha,
Bắt lợn sang cưới, bắt gà sang cheo.

Gió đưa bụi chuối sau hè,
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.
Con thơ tay ẵm tay bồng,
Tay nào xách nước, tay nào vo cơm.

Gió đưa bụi chuối sau hè,
Anh mê vợ bé, bỏ bè con thơ.
Con thơ tay ẳm tay bồng,
Tay dắt mẹ chồng, nách cặp con dao.

Gió đưa bụi chuối sau hè,
Anh mê vợ nhỏ, bỏ bè con thơ.
Con thơ tay ẵm tay bồng,
Tay dắt mẹ chồng, đầu đội vai mang.

Hai nách những lông xồm xồm,
Chồng yêu chồng bảo mối tơ hồng trời cho.
Đêm ngủ thì ngáy o o,
Chồng yêu chồng bảo lái đò cầm canh.
Ăn vụng bụng to tày thùng,
Chồng yêu chồng bảo cái giành đựng cơm.

Hai tay cầm bốn quả hồng,
Quả chát phần chồng, quả chín phần trai.
Đêm đêm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng thì ít, thương trai thì nhiều.

Hoa hồng nào lại không gai,
Gái nào là gái không hay ghen chồng.

– Hỏi chàng chìa khóa ai cầm,
Giang sơn ai giữ, việc tảo tần ai lo?
– Chìa khóa có mẹ anh cầm,
Giang sơn anh giữ, việc tảo tần em lo.

Không thiêng cũng thể bụt nhà,
Dầu khôn dầu dại cũng là chồng em.

Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ,
Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu.

Làm thân con gái phải lo,
Mùa đông buốt giá ai cho mượn chồng?

Lạy cha hai lạy một quỳ,
Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng.
Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm hồng,
Thắt lưng đũi tím, bộ nhẫn đồng con đeo tay.

Lấy chồng thì phải theo chồng,
Chồng đi hang rắn hang rồng cũng di.

Lấy chồng thì phải theo chồng,
Thôi đừng theo thói cha ông nhà mình.

Lấy chồng trà rượu là tiên,
Lấy chồng cờ bạc là duyên nợ nần.

Lỗ mũi em mười tám gánh lông,
Chồng yêu, chồng bảo: “Râu rồng trời cho”.
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chồng yêu, chồng bảo: ngáy cho vui nhà”.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu, chồng bảo: “Về nhà đỡ cơm”.
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu, chồng bảo: “Hoa thơm rắc đầu’.

Mẹ mong gả thiếp về vườn,
Thiếp thưa với mẹ đường trường gian lao.
Đường trường khó lắm mẹ ơi,
Gởi thơ, thơ lạc, gởi lời lời quên.
Chi rằng mẹ gả kề bên,
Dù mưa dù gió sớm hôm đỡ đần.

Một ngày loi lẻ không chồng,
Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng cũng hư.

Mua ruộng thì hỏi bá canh,
Cưới vợ thì hỏi chung quanh láng giềng.

Mưa từ Hùng Nhĩ mưa ra,
Mưa khắp thiên hạ, mưa ra bến Tuần.
Nước sông Rân chảy về dồi dội,
Lòng em bối rối chờ đợi lấy anh.
Trận này nức tiếng thơm danh.

Năm chục quan tiền
Xây vòng trái bưởi
Con heo bỏ cũi khiêng đi
Tấm lụa An Thái em bận cho mát
Lụa Kiểng Hàng em bận lót mồ hôi
Nón Phú Trung anh chạy đồi mồi
Gấm Nước Mặn chạy bông hoa cúc
Tiền thời cho chẵn một trăm
Bạc thời năm nén, vàng ròng mười đôi.
Lụa năm bảy gọn anh ơi!
Nhiễu thêm gọn nữa thì tôi mới về.

Năm ngoái anh mới sang Tây,
Đồn rằng buôn bán năm nay phát tài.
Lòng anh muốn lấy vợ hai,
Rằng: “Nhà có thuận, nay mai nó về?
Rồi ra một quán đôi quê,
Tôi muốn nó về làm bạn sớm hôm.
Trước là sinh tử sinh tôn,
Sau nữa thờ phụng công môn ông bà.
Trước con nhà sau ra con nó,
Xin nhà rồi chớ có ghen tuông.
Chợ rộng thì làm gái buôn,
Sông rộng lắm nước trong nguồn chảy ra.
Lòng anh ăn ở thật thà,
Coi nó mười tám, coi nhà hai mươi;
Lòng anh chàng có như người,
Có mới nới cũ, tội trời ai mang;
Lòng anh ăn ở bằng ngang,
Nó giàu bằng mấy cũng nàng thứ hai”.
– “Thôi thôi, tôi biết anh rồi,
Bụng anh nông nổi giếng khơi không bằng!
Bây giờ anh khéo khôn ngoan,
Sau anh tư túi, tôi làm chi anh?
Anh mà bắt chước Thúc Sinh,
Thì anh đừng trách vợ mình Hoạn Thư!”

Ngó lên hòn núi Ba Thê,
Muốn bỏ mà về sợ cực vợ con.

Nhà em mả táng hàm rồng,
Thì em mới lấy được chồng thợ khay.

Nhiều tay vỗ nên bộp, có cột mới nên kèo,
Vợ chồng giúp đỡ đói nghèo có nhau.

Nước lụt thì lụt cả làng,
Đắp đê chống lụt, thiếp chàng cùng lo.

Chú thích

(*) An Thái: Ngôi làng thuộc thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Làng có nghề dệt lụa và nghề làm bún song thần.

(*) Ba Vát: Một làng thuộc xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

(*) Bến Tuần: Bến đò thuộc xã Hùng Nhĩ, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

(*) Chợ Giồng: Một địa danh hiện thuộc thị trấn Vĩnh Bình, Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

(*) Lên Đợi xuống Tuy: Lên Đại Phong, xuống Tuy Lộc, hai địa điểm thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

(*) Đèo Cả: Một trong những đèo lớn và hiểm trở tại miền Trung Việt Nam, cắt ngang qua dãy núi Đại Lãnh ở chỗ giáp ranh của hai tỉnh Phú Yên (huyện Đông Hòa) và Khánh Hòa (huyện Vạn Ninh).

(*) Giồng Trôm: Huyện thuộc tỉnh Bến Tre, nơi đồng ruộng phì nhiêu, là vựa thóc của tỉnh Bến Tre.

(*) Hòn Ngang: Xóm thuộc xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

(*) Hùng Nhĩ: Xã thuộc huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, có truyền thống về hát ghẹo.

(*) Kiểng Hàng: Làng thuộc thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, nơi có nghề dệt lụa.

(*) Núi Ba Thê: Núi thuộc huyện Châu Đốc, tỉnh An Giang, là nơi có nhiều cảnh đẹp.

(*) Nước Mặn: Thị trấn Nước Mặn thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, xưa chuyên dệt vải giả gấm rất đẹp.

(*) Phú Trung: Xã Phú Trung thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nơi có nghề làm nón.

(*) Sông Rân: Con sông chảy qua địa phận xã Hùng Nhĩ, tỉnh Phú Thọ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *